 |
|
Hai ngôi mộ tổ dòng họ Trương Như
và Trần Đình. (Hình: cacdongho.vn)
|
Ngôi mộ kết phát của dòng họ Trần Đình
Địa
lý phong thổ là một trong những môn học của Đông Phương, đặc biệt, người Trung
Hoa thường nghiên cứu và tin tưởng vào sự ứng nghiệm của phong thổ, địa thế, hướng
nhà, mồ mả người chết... Họ cho rằng những yếu tố đó có ảnh hưởng đến sự hưng
thịnh của những người liên hệ: Chủ nhà, chủ đất hoặc con cháu người chết...
Tôi
thường đi đó đây, nghe được nhiều chuyện về địa lý, phong thổ, đọc được những
tài liệu về các dòng họ có tên tuổi trong lịch sử, hoặc được ghi chép qua gia
phả, sử sách. Dòng họ nào cũng có nơi phát tích, cũng có những câu chuyện được
truyền tụng trong con cháu, trong nhân dân, nơi sinh quán của mình. Những câu
chuyện đó có mục đích chứng minh rằng các nhân vật nổi tiếng trong sử sách và mồ
mả của họ hoặc “chính” hoặc “tà” đều chịu ảnh hưởng bởi địa lý, phong thổ và mồ
mả tổ tiên của họ.
Địa
lý phong thổ đúng hay không là do niềm tin của mỗi người. Nhưng đối với người
Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam... từ vua chúa đến thường dân, người ta
vẫn tin điều đó. Dòng họ nào từ bình dân mà phát lên vương hầu cũng đều có một
huyền thoại về địa lý phong thổ.
***
Chuyện
kể rằng:
Vào
một thời xa xưa, tại làng Hà Trung có một gia đình nghèo, gồm hai vợ chồng và một
đứa con trai. Ông bà đã sống một cuộc đời hiền lành, đơn sơ, vô tội, làng xóm
ai cũng thương. Trong làng có ông lý trưởng cũng là người tốt, thấy ông bà
nghèo, thật thà nên cho ông bà và đứa con trai đến ở trên rẫy đất của ông mới
khai phá ở vùng cận sơn, để canh giữ hoa màu cho khỏi thú rừng đến quấy phá.
Khi
phá rừng làm rẫy, ông lý trưởng đã chặt hết cây cối chỉ chừa lại hai cây gỗ lim
thật lớn, cành lá sum xuê che kín cả một khu vườn. Ông bà và người con trai đã
dựng một túp lều tranh dựa vào gốc cây để ở.
Bỗng
một ngày nọ, có hai người khách từ phương xa đến, mỗi người mang một cái túi vải
màu xanh ở trên vai. Hai người khách suốt ngày đi qua các suối, đồi, ngắm chỗ
này, xem chỗ nọ như đang đi tìm một vật gì... Đến tối, hai ông khách lại tìm
vào nhà ông bà xin ngủ lại.
Ông
bà suốt đời chẳng khi nào có khách đến chơi, nhất là khách trông có vẻ sang trọng
giàu có như hai ông này, nên ông bà rất mừng rỡ, lo đi nấu cơm cho khách ăn.
Nhà
nghèo, không biết lấy gì đãi khách, chỉ có mấy quả trứng gà trên tổ, ông bà đem
luộc để làm thức ăn mời khách... Trong nhà chỉ có cái giường tre và một chiếc
chiếu, ông bà nhường cho khách nằm, còn mình và cậu con trai thì lót ổ rơm nằm
ngủ trên nền nhà bằng đất. Khách trả tiền, ông bà nhất định không lấy, xem việc
khách đến nhà như là đại phước cho mình.
Sáng
hôm sau, khách từ giã ra đi, lòng còn quyến luyến... Nhưng đến chiều tối, ông
bà bỗng thấy khách trở lại, xin trọ qua một đêm nữa. Ông bà lại nấu cơm và bắt
gà làm thịt đãi khách, vì hôm qua đã luộc trứng cho khách ăn rồi nay không còn
gì làm thức ăn, chỉ còn con gà duy nhất...
Hai
ông khách suốt đêm trằn trọc không ngủ được, nằm suy nghĩ về tấm lòng hiếu
khách của một gia đình nghèo, nơi chốn xa xôi hẻo lánh, suy nghĩ về kế hoạch đi
tìm ngôi mộ kết phát vương hầu của vùng này...
Hai
ông khách chính là hai ông thầy địa lý bên Tàu sang, nghe tiếng vùng này có chỗ
đất tốt nên tìm đến xem. Tìm mãi không thấy, chỉ biết có một chỗ đáng nghi ngờ,
đó chính là nơi ông bà đang ở, nơi lều tranh bên cạnh gốc cây lim này. Muốn chiếm
lấy chỗ đó cũng khó vì đã có người làm nhà ở đó rồi!
Hai
ông khách thất vọng, hôm sau dậy sớm để lại mấy nén bạc dưới chiếu để trả ơn rồi
lặng lẽ ra đi. Ông bà và người con trai thức dậy, thấy khách đã đi xa; cuốn chiếu
dọn giường thì thấy có vật gì sáng loáng để lại dưới chiếu. Nhà nghèo, có bao
giờ thấy hình thù nén bạc ra sao đâu, nên ông bà vội vã sai con đuổi theo khách
để trả lại hai nén bạc mà khách để quên hôm qua.
Người
con trai chạy đến bến đò thì may quá, hai ông khách còn ngồi uống nước trong
quán đợi... anh ta bèn trao trả hai nén bạc... nhưng hai ông khách không lấy,
khách muốn trả ơn... Khách giải thích thế nào, cậu con trai cũng không chịu nhận.
Hai
ông khách nghĩ bụng trên đời chưa ai có lòng tốt như hai ông bà nghèo khó kia.
Thôi, có lẽ chỗ đất kết phát này trời dành cho hai ông bà rồi vậy. Suy nghĩ như
thế nên hai ông khách đành theo cậu con trai trở về nhà cũ.
Hai
ông khách bèn kêu riêng cậu con trai ra, nói hết sự thật cho cậu biết và dặn:
-
Ông sẽ chết trước, bà sẽ chết sau. Ông chết thì sẽ táng tại chỗ đó... Phải đợi
giờ linh mới hạ huyệt... Giờ linh là khi nào thấy có người đội nón sắt đi qua
thì chôn. Chừng một năm sau đó người mẹ sẽ chết... cũng sẽ được chôn bên cạnh mộ
người cha, phải đợi giờ linh... khi nào thấy con cá nhảy lên ngọn cây tre thì hạ
huyệt.
Mấy
tháng sau, người cha lâm bệnh và qua đời một cách nhanh chóng. Người con trai
bó xác cha vào một chiếc chiếu, nhờ người bạn giúp mình khiêng xác cha đến chỗ
đã định sẵn... ngồi đợi mãi không thấy ai đội nón sắt đi ngang qua, chỉ toàn
người đội nón lá... Đến trưa, bỗng thấy một người vác cái nồi đồng từ xa đi lại,
thấy có đám ma thì đến xem... Người con trai thấy chàng nọ đội cái nồi trên đầu
che nắng thì hiểu là nón sắt đây rồi, bèn hạ huyệt chôn cha.
Một
năm sau, mẹ chết, người con cũng mang xác mẹ ra ngồi bên cạnh huyệt để đợi con
cá nhảy lên ngọn cây tre thì chôn cất mẹ. Đợi mãi không thấy, bỗng có một đứa
chăn trâu từ trong xóm mang một cần câu đi đến, trên cần câu có con cá... anh
ta hiểu đây là giờ linh... bèn hạ huyệt chôn mẹ rồi ra về.
(Trích
“Đàn Bướm Lạ Trong Vườn” của Nguyễn Lý-Tưởng, 1998, tr. 153-154)
Trước
năm 1975, tôi đã được nghe các cụ nhà Nho ở Quảng Trị kể lại câu chuyện rất hấp
dẫn và rất có ý nghĩa này, liên quan đến dòng họ Trần Đình ở làng Hà Trung. Sau
ngày Cộng Sản Hà Nội xua quân chiếm miền Nam (30 tháng 4, 1975), ở trong tù,
tôi còn được bạn bè bổ túc thêm nhiều chi tiết còn ly kỳ hơn... Tôi không dám
tin đó là sự thật vì chưa đọc được gia phả hay tìm được tài liệu lịch sử chính
xác có đề cập đến vấn đề này. Vì thế, tôi đã viết lại câu chuyện trên với nhan
đề “Ngôi mộ phát 18 đời thượng thư” xem như là một chuyện hư cấu.
Vào
khoảng năm 1995-1996, một người trong dòng họ Trần Đình, hiện định cư tại Nam
California, đã đọc truyện ngắn của tôi đăng trên các báo của Hội Đồng Hương Quảng
Trị và đi tìm tôi để tâm sự... nhưng mãi đến mùa đông năm Nhâm Ngọ (2002),
chúng tôi mới được gặp nhau.
Đầu
năm 2003, tôi nhận được đầy đủ tài liệu gia phả, hình ảnh... liên quan đến dòng
họ Trần Đình.
Trải
qua thời gian, câu chuyện về gốc tích dòng họ Trần Đình làng Hà Trung, tổng An
Xá, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, có thêm bớt ít nhiều qua lời người kể.
Nhưng điểm chính yếu thì giống nhau, “có một ông thầy địa lý đã chỉ cho người họ
Trần chỗ đất kết phát...” Điều này đã được chính ông Trần Đình Túc (Thượng Thư,
Hiệp Biện Đại Học Sĩ) ghi lại trong gia phả:
“Đệ
Tam Thế (đời thứ ba). Đệ Nhị Phái (nhánh thứ hai):
Trần
Văn Khởi, con thứ hai của ông Trần Văn Nghinh.
Mất
ngày 24 tháng 12. Mộ tại bản xã (làng Hà Trung), Lãng Phao xứ.
Nguyên
phối: Tạ Thị Liêu người làng Hà Thanh (Quảng Trị).
Mất
ngày 26 tháng 5. Mộ táng tại Lãng Phao xứ. Phu Thê hợp táng (mộ đôi)...”
“Sự
trạng ngài Trần Văn Khởi: Ngài vốn người thành thật, chăm việc điền viên. Một
hôm có hai thầy địa lý, một người là Lê Phúc Hoàn, người làng Xuân Mai, tỉnh
Nghệ An; người thứ hai là Trương Đình Thận, người làng Cao Lao, tỉnh Quảng
Bình, nhân đi coi địa lý thường nghỉ lại nhà ông. Đến khi ra đi, hai thầy ham
coi sơn thủy vui cảnh lâm tuyền, bỏ quên túi bạc lại. Hai ông bà lật đật đi
tìm, đưa trả túi bạc lại. Hai ông thầy cảm phục tấm lòng trung hậu nên chỉ cho
chỗ đất tốt ở xứ Lãng Phao và có dặn rằng: Ngày sau ông bà trăm tuổi, bất luận
ngày tháng nào, cứ theo hướng ấy mà hợp táng, thì con cháu đời đời hưởng phúc ấm
no vô cùng. Nói rồi, hai thầy từ biệt ra đi. Sau y phép ‘hợp táng’ ấy là đất
phát phúc họ ta kể từ đó.”
Tương
truyền ông thầy địa lý có cho hai câu thơ:
Bao
giờ núi nọ hết cây,
Sông
kia hết chảy, họ này hết quan.
Bao
giờ rắn sắt bò ngang,
Tây
kia kéo lại, hết quan họ này.
Sự
việc người Pháp làm đường xe lửa (rắn sắt) ngang qua khu mộ song táng ngăn chặn
dòng suối chảy qua vùng này, sông đã cạn thành lạch nhỏ và rừng rú ở đây cũng
thành đồi trọc do đồng bào phá rừng, khai hoang để trồng trọt... Từ khi Cộng Sản
nổi lên, Việt Minh cướp chính quyền năm 1945 trở về sau, con cháu dòng họ Trần
Đình, ở Việt Nam cũng như ở hải ngoại, vẫn có người đỗ đạt (cử nhân, tiến sĩ, kỹ
sư, v.v..) nhưng không có ai giữ chức vụ lớn trong chính quyền như tổ tiên của
họ trước đây.
Những đóng góp của dòng họ Trần Đình đối với lịch sử
Dòng
họ Trần Đình đã đóng góp nhiều công lao lớn trong việc bảo vệ và mở mang đất nước,
dưới thời các chúa và các vua nhà Nguyễn.
Các
vị tổ của dòng họ Trần Đình rất nổi tiếng trong lịch sử như ông Trần Đình Ân (tổ
đời thứ 6), Trần Đình Khánh (tổ đời thứ 7), Trần Đình Hy (tổ đời thứ 8), Trần
Đình Túc (tổ đời thứ 11), Trần Đình Phát (tổ đời thứ 12)...
Những
người này đã làm đến nhất phẩm triều đình, tước Thượng Thư hay giữ những trọng
trách lớn mà sử sách còn ghi lại. Trong phạm vi bài này, chúng tôi xin đặc biệt
giới thiệu hai vị tổ dòng họ Trần Đình được biết đến nhiều nhất qua sử sách là
ông Trần Đình Ân và ông Trần Đình Túc:
a.
Ông Trần Đình Ân: Nhà quân sự kiêm chính trị
Ông
Trần Đình Ân (1626-1706), tổ đời thứ sáu, làm Tham Mưu cho chúa Nguyễn, trải
qua bốn đời chúa:
*
Thượng Vương Nguyễn Phúc Lan (1601-1648) thường gọi là chúa Thượng.
*
Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (1620-1687) thường gọi là chúa Hiền.
*
Nghĩa Vương Nguyễn Phúc Trăn (1651-1691) thường gọi là chúa Nghĩa.
*
Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) thường gọi là chúa Minh hay Quốc chúa.
Ngoài
70 tuổi, ông đã hai ba lần xin về hưu mà chúa Nguyễn Phúc Chu vẫn lưu dụng. Ông
qua đời năm 81 tuổi và được an táng tại làng Hà Trung, quê hương của ông.
Năm
1672, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần (Hiền Vương), Trịnh Căn đem 100,000 quân,
rước vua Lê vào đánh chúa Nguyễn, phao tin quân Trịnh có 180,000. Trần Đình Ân
đã hiến kế ngăn chận được quận Trịnh.
Sách
Đại Nam Thực Lục Tiền Biên ghi lại: “Năm Nhâm Tý (1672), tháng 6, họ Trịnh cử đại
binh đến xâm lấn. Trịnh Căn làm nguyên soái thủy quân, Lê Thời Hiến làm thống
suất bộ quân, lãnh quân 10 vạn, nói thêm lên là 18 vạn, chia đạo cùng tiến. Trịnh
Tạc rước vua Lê đi tiếp ứng.”
(Trích
Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, bản dịch của Viện Sử Học Hà Nội, 1962, tr. 115)
Thấy
thế lực quân Trịnh rất lớn, Chúa Nguyễn chọn hoàng tử thứ tư là Nguyễn Phúc Hiệp
(Tôn Thất Hiệp), làm nguyên soái và nói với các tướng:
-
Quân giặc nhiều, quân ta ít, thế không địch được, các khanh hãy trình bày xem
nên đánh thế nào?
Cai
cơ Tống Đức Minh thưa rằng:
-
Quân Trịnh vào sâu, lợi ở sự đánh chóng, ta cứ hào sâu lũy cao, giữ mãi để quân
nó nhụt chí. Vả việc đánh thành là tai vạ của nhà binh. Quân Trịnh tiến đánh
không được, lương thực không tiếp tế được, thế tất sẽ phải nhân đêm trốn đi, ta
thừa thế đánh, một tiếng trống là phá được.
Chúa
còn cho là khó.
Trần
Đình Ân mật thưa rằng:
-
Thần liệu tính quân Trịnh không có tới 10 vạn mà phao lên 18 vạn là dối trá.
Việc
binh cần có tiếng trước rồi mới đến sự thực. Hai nước đánh nhau tất có gián điệp.
Xin phao lên là quân ta có 16 vạn và tuyển thêm người cường tráng 10 vạn nữa, tất
cả 26 vạn, do chúa tự làm tướng thân chinh, để cho bọn gián điệp về bảo nhau.
Thế gọi là việc binh không kiêng quyền biến.
Chúa
cho là phải.
Tức
thì sai quan chia đi hai xứ để tuyển binh, và răn rằng:
-
Nếu chậm không kịp kỳ hạn ra quân thì lấy quân pháp trị tội.
Ngày
Ất Mùi, chúa thân đốc suất đại quân thủy bộ đều tiến. Sai đội Hữu binh cơ Tam
thủy giữ cửa biển Tư Dung, đội Hậu thủy giữ cửa Eo, cơ Hậu thủy giữ cửa Minh
Linh (cửa Tùng), huy động hết hương binh năm huyện bày đóng ở bờ biển Trường
Sa. Từ đấy tiếng quân lừng lẫy, lòng người mới yên...
(Trích
Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, Sđd, tr. 116)
Trần
Đình Ân làm quan trải bốn triều chúa Nguyễn, được chúa tin cậy, năm Giáp Tý
(1684) được thăng Cai Bạ, năm Quý Tỵ (1689) được thăng Cai Bạ Phó Đoán Sự. Năm
Giáp Ngọ (1700) được thăng Tham Chính Chánh Đoán Sự. Năm Quý Mùi (1703), ông đã
78 tuổi, xin về hưu mà chúa Nguyễn Phúc Chu không cho, giữ lại đến hai, ba lần,
mãi đến tháng 8 năm đó mới được. Khi vào tạ, chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho bài
thơ viết vào vải lĩnh trắng, trao cho ông. Bài thơ như sau:
“Quốc
chúa Thiên Túng Đạo Nhân, ngự chế thơ và tựa, sắc cho Tham Tri Chánh Đoán Sự
Đông Triều Hầu Trần Đình Ân từ chức về làng. Khanh trải bốn triều, quốc chính
triều cương, có nhiều công lao. Bề tôi siêng năng, duy khanh hơn cả. Lại tính
hay nhún nhường êm dịu, vui đạo thích lành, cho nên lan quế thơm tho, một nhà
vinh hiển. Tuổi gần 80, mà chưa suy hèn, thực là phúc thọ của nước nhà ta. Nay
vì mến đạo ưa tĩnh, từ quan chức về làng, ta hai ba lần cố giữ mà cuối cùng
không cản được chí. Khi từ biệt ra về, ta đặc cách ban cho 10 mẫu ruộng và 10
lính hầu, dùng để dưỡng lão. Sợ thế chưa phỉ lòng ta, nên tặng một bài thơ thất
ngôn để trọn ý ta vậy. Thơ rằng:
(Phiên
âm Hán văn):
Bình
sinh trì thiện tính tinh thuần.
Tán
phụ ngô triều tứ thế nhân.
Chính
nghiệp dĩ thành từ tử thụ.
Đạo
tâm hằng hiện khước hồng trần.
Hi
hi hạc phát đồng Thương hạo,
Nghiễm
nghiễm tiên phong diệc Hán thần.
Thử
khứ Quảng Bình hà sở sự,
Thanh
sơn lục thủy lạc thiên chân.
(Dịch
ra Việt):
Suốt
đời giữ thiện tính tinh thuần,
Giúp
đỡ triều ta trải bốn đời.
Sự
nghiệp đã thành, trả giây ấn tía,
Đạo
tâm thường hiện, lánh cõi bụi hồng.
Tóc
bạc phơ phơ giống bốn hạo núi Thương (1)
Dáng
tiên nghiêm chỉnh như (Trương Lương) nhà Hán.
Nay
về Quảng Bình thì làm việc gì?
Non
xanh nước biếc, vui hưởng tính trời.
(Trích
Đại Nam Thực Lục Chính Biên, sđd, tr. 160-161)
Chú
thích:
(1)
Ý nói đến bốn ông già trên 80 tuổi trốn vào núi Thương Sơn để tránh loạn cuối đời
Tần, sau Hán Cao Tổ mời không ra. Râu mày đều bạc nên gọi là tứ hạo.
Bài
thơ này được ông Trần Đình Túc dịch ra thơ Việt như sau:
Tính
khí ôn hòa giữ mực trung,
Bốn
triều giúp việc biết bao công.
Thành
công mới chán màu thao tía,
Mộ
đạo nên xa chốn bụi hồng.
Thương
hạo bạc phơ hai mái tóc,
Hán
thần vui thú một tơ đồng.
Chuyến
này về xứ làm chi đó?
Nước
biếc non xanh thỏa tấm lòng.
(Trích
từ Gia Phả họ Trần Đình do ông Trần Đình Túc biên soạn)
Ngoài
ra còn có bản dịch khác của của Trần Vinh Anh, Lê Ngọc Bích, Nguyễn Đức Cung và
Nguyễn Lý-Tưởng (Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, bản dịch, trang 246 nxb Khai
Trí, Sài Gòn, 1974) như sau:
Dịch
nghĩa:
Thuở
bình sinh chăm giữ việc thiện, tính khí trong sạch thuần khiết.
Giúp
đỡ triều ta trải qua bốn đời.
Sự
nghiệp chính đã thành, từ chối không nhận đai lưng màu tía.
Lòng
đạo đức trong tâm hồn thường biểu lộ ra, lui bỏ chốn hồng trần.
Tóc
bạc phau phau giống như các bậc ở núi Thương Sơn.
Dáng
tiên uy nghi như tôi thần nhà Hán.
Lần
này ra Quảng Bình sẽ làm việc chi?
Chắc
cũng là tu hành ở chốn núi xanh, nước trong, vui với cõi trời đất chân lý ấy
thôi.
Dịch
thơ:
Xưa
nay tánh thiện vốn trong thuần,
Trải
bốn triều giúp đỡ thế nhân.
Đai
tía không màng khi mãn sự,
Đạo
lành thường giữ lánh dương trần.
Phau
phau tóc trắng dường Thương Hạo,
Lẫm
lẫm vóc tiên tựa Hán thần.
Ra
Quảng phen này còn lắm việc,
Non
xanh nước biếc mặc xoay vần.
(Xin
lưu ý: huyện Minh Linh ngày xưa thuộc tỉnh Quảng Bình, sau đổi tên là phủ Vĩnh
Linh thuộc tỉnh Quảng Trị. Hiện nay vẫn lấy tên huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
Trong bài thơ có câu “Lần này ra Quảng Bình” có ý nói đến làng Hà Trung, huyện
Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị bây giờ).
Ông
về làng lập chùa Bình Trung và khắc bài thơ của chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho
ông vào bia đá trước chùa, đến nay vẫn còn.
Qua
nhận xét của chúa Nguyễn Phúc Chu, “Bề tôi siêng năng, duy khanh hơn cả,” chúng
ta biết Trần Đình Ân là vị công thần bậc nhất, được gần gũi các chúa Nguyễn và
bàn bạc nhiều điều ích quốc lợi dân, hợp ý chúa.
Trước
khi về hưu, Trần Đình Ân đã tiến cử Nguyễn Khoa Chiêm thay thế ông. Nguyễn Khoa
Chiêm cũng là con rể của ông, và là một nhân tài của xứ Đàng Trong dưới thời
các chúa Nguyễn. Ông có viết sách “Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí” rất có giá
trị. (Xem sách “Nhà Bè Nước Chảy Chia Hai” của Nguyễn Lý-Tưởng, xuất bản năm
2003, tr. 181)
Ông
Trần Đình Ân mất năm Bính Tuất (1706) thọ 81 tuổi, được tặng tước “Đôn Hậu Công
Thần Đặc Tiến Trụ Quốc Kim Tử, Vinh Lộc Đại Phu, Đại Lý Tự Khanh” tên thụy là
“Thuần Thiện,” được cấp 10 người phu coi mộ và 30 mẫu ruộng để tế tự. Năm 1825,
vua Minh Mạng tặng cho ông chức “Cảnh Lượng Chi Thần” và cho phép dân xã Hà
Trung được thờ phụng trong đình làng như một vị thần của xã.
b.
Ông Trần Đình Túc: Nhà quân sự kiêm chính trị, ngoại giao
Ông
Trần Đình Túc (1816-1899), tổ đời thứ 11, là người viết lại gia phả họ Trần
Đình, còn lưu giữ cho đến bây giờ.
Ông
sinh năm 1816 dưới thời vua Gia Long tại làng Hà Trung, Gio Linh, Quảng Trị.
Năm
lên 10 tuổi, cha mất sớm, là con trưởng, phải vừa học vừa giúp mẹ, đi buôn để
nuôi các em. Năm 17 tuổi, đã ghi danh thi Hương (Cử nhân) nhưng không đậu. Năm
1840 dưới thời vua Minh Mạng, ông được vua gia ân cho vào hàng ấm sanh và được
học tại Quốc Tử Giám.
Hai
năm sau, 1842, dưới thời vua Thiệu Trị, ông thi đỗ cử nhân khoa Nhâm Dần
(1842), năm đó ông 26 tuổi, được bổ làm hành tẩu Sử Quán, một chức quan nhỏ. Ba
năm sau, 1845, ông được bổ đi làm tri huyện tại Bất Bạt (Sơn Tây), dưới quyền của
quan tổng đốc Nguyễn Đăng Giai. Năm 1847 (Tự Đức nguyên niên) ông được về làm
Nhiếp Biện tại Phủ Quốc Oai dưới quyền của Án sát Phạm Chi Hương. Hai ông Nguyễn
Đăng Giai và Phạm Chi Hương đều khen Trần Đình Túc là người siêng năng làm việc,
tánh nết ngay thẳng và đề nghị lên vua ân thưởng. Sau đó, ông được về làm Chủ sự
bộ Hộ và được trao công tác “tiếp đón Sứ nhà Thanh.”
Năm
1850, ông được bổ Tri phủ Vĩnh Tường dưới quyền của Tổng đốc Ngụy Khắc Tuân, cũng
được khen là “mẫn cán.” Năm 1853, thăng Quản đạo Phú Yên (coi một tỉnh nhỏ).
Năm
1854, ông xin về nuôi mẹ già.
Năm
1856 ông được vua đòi ra phụ trách việc quân ở Đà Nẵng với chức Quảng Nam Quân
Thứ Bang Biện và được vua gọi về kinh đô để bàn về việc cơ mật rồi được phái đi
thương thuyết với Pháp. Vua biết rõ mẹ của ông ở nhà đau ốm nên ban cho sâm, quế,
tiền bạc và gạo, và ra lệnh cho quan địa phương phải thường lui tới thăm hỏi...
Năm 1857, ông được về nhà lo cho mẹ.
Năm
1859, nhân việc quân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, vua ban cho ông tước “Hồng Lô Tự
Khanh” sung “Biên Hòa Quân Thứ Tán Tương.” Nhưng vừa lên đường nhận chức thì
Biên Hòa bị Pháp chiếm rồi nên phải cách lưu... (mất chức). Năm đó, mẹ ông mất,
vua cho ông được về nghỉ ba tháng để lo tang mẹ.
Năm
1862, vua cho ông làm “Biện Lý Bộ Hình.” Ông tâu xin mộ dân khẩn hoang tại hai
tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị, năm 1865, vua cho ông làm “Dinh Điền Sứ,” ông cho
đào vét sông Vĩnh Định (Quảng Trị), Hà Trung, Hà Trử (Thừa Thiên); đắp đập Hưng
Bình Giang (Truồi, Thừa Thiên) và đập Hà Trung (Thừa Thiên), khai mỏ Sơn Phàng
và Lưu Biêu, được thăng Thị Lang.
Năm
1868, ông được cử đi Hương Cảng (Hong Kong) công tác, khi về được làm Tuần phủ
Hà Nội rồi qua phụ trách Quân Thứ 3 tỉnh Sơn-Hưng-Tuyên để lo về việc quân. Thời
gian này ông sống ở miền núi, khí hậu khắc nghiệt nên bị bệnh... Vì thế, vua
cho về làm Dinh Điền Sứ...
Năm
1873, quân Pháp đánh chiếm Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương. Vua Tự Đức
cho ông làm Tổng Đốc Hà Ninh (Hà Nội-Ninh Bình) cùng với Nguyễn Trọng Hợp (Tuần
phủ Hà Nội) đi thương thuyết với Pháp, đòi trả lại thành trì. Việc thành công,
ông được thực thụ Tổng Đốc.
Năm
1880, ông xin về hưu, được thăng Hiệp Biện Đại Học Sĩ.
Năm
1882, Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai, vua Tự Đức phong cho ông làm Khâm Sai
Đại Thần, Tổng Đốc, ra Hà Nội thương thuyết với Pháp. Việc bất thành, phải
giáng chức. Ông xin về hưu, được vua cho ăn nửa lương.
Năm
1883, sau khi vua Tự Đức mất, xảy ra vụ phế lập tại Huế, vua Hiệp Hòa lên ngôi,
quân Pháp đánh vào cửa Thuận An, bắt triều đình phải ký hòa ước chấp nhận các
điều kiện của Pháp đưa ra. Lúc bấy giờ ông đã về hưu (67 tuổi), vua vẫn gọi ông
ra, phong cho làm Lễ Bộ Thượng Thư, Khâm Mạng Đại Thần để đi thương thuyết với
Pháp.
Ngày
23 tháng 7 Quý Mùi (25 tháng 8, 1883), tại Huế, đại diện Pháp là Harmand và De
Champeaux; đại diện Việt Nam là Trần Đình Túc và Nguyễn Trọng Hợp ký kết hòa ước
gồm 27 khoản, thường gọi là hòa ước Quý Mùi hay là hòa ước Harmand.
Năm
1898, vua Thành Thái ban cho ông được thực thụ hàm “Hiệp Biện Đại Học Sĩ.”
Ngày
1 tháng 11 Kỷ Hợi (3 tháng 12, 1899) ông mất, thọ 83 tuổi (tức 84 tuổi tính
theo Âm Lịch), mộ táng tại làng Hà Trung, quê hương của ông. Vua cấp tiền 500
quan để lo việc chôn cất và phong cho ông tước “Lại An Tử,” có quan Khâm Mạng của
triều đình đến tế.
Ông
có biên soạn bộ sách “Tiên Sơn Chủ Nhơn toàn tập” gồm thi, văn, sớ, biểu, thư từ...
do ông sáng tác, cộng 19 cuốn để lại cho gia đình.
Khi
về hưu, ông ở tại làng Bàn Môn (Truồi), cùng với con cháu lập nên làng An Hà,
xã Lộc Sơn (huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên). Dòng họ Trần Đình từ Quảng Trị vào
đây lập nên một nhánh thứ hai tại tỉnh Thừa Thiên.
Theo
gia phả họ Trần Đình kể lại:
Năm
1883, khi ký hòa ước với Pháp gồm 27 khoản, khoản thứ 1, đại ý “Tất cả các nước
muốn giao thương với Việt Nam thì phải được sự đồng ý của chính phủ Pháp.” Ông
Trần Đình Túc đề nghị thêm, “Tất cả các nước (kể cả Trung Quốc)...” Phía người
Pháp thấy không có gì trở ngại nên đồng ý. Nhưng về sau chỉ vì mấy chữ “kể cả
Trung Quốc” mà khiến cho Pháp phải gặp nhiều rắc rối với Trung Quốc vì Trung Quốc
cho rằng Pháp muốn gây hấn với họ nên phong trào bài Pháp nổi lên rất mạnh ở
Tàu. Cũng xin lưu ý một điều này, vào thời điểm 1872-1883, triều đình Huế vẫn
còn nhiều người có khả năng và có uy tín, tên tuổi, để đảm trách công tác ngoại
giao với Pháp. Ông Trần Đình Túc chỉ là một chức quan nhỏ, chưa lên tới hàng nhất
phẩm (đại thần), hơn nữa ông đã xin về hưu rồi. Thế mà vua và các quan vẫn cố mời
ông ra làm việc trở lại để nhận một sứ mạng rất khó khăn về mặt ngoại giao, vì
thời đó đã biết trước việc thương thuyết sẽ thất bại... Như thế đủ chứng tỏ ông
là người có khả năng về ngoại giao...
Dòng
họ Trần Đình có nhiều người làm tới Thượng Thư hay được phong tước “công, hầu,
bá, tử, nam” là một trong “ngũ tước” của bậc đại thần. Nhưng không có vị nào được
sử sách đề cập nhiều như hai ông Trần Đình Ân và Trần Đình Túc.
Họ Trần Đình thực sự có bao nhiêu người làm quan (thượng thư)?
Theo
bài tựa Gia Phả họ Trần Đình do ông Trần Đình Túc, tổ đời thứ 11, viết như sau:
“Họ
ta nguyên người tỉnh Thanh Hóa. Ngài thủy tổ tên là Trần Văn Đông vào đây đến
nay đã 13 đời (tính đến 1883), mở mang nghiệp trước, dìu dắt người sau, đời đời
thường có người làm nên... ”
Và:
“Công
nghiệp sự trạng của các tiền nhân ta đều thấy trong Thực Lục, Liệt Truyện, bia
đá bảng vàng và sắc văn, truyền sử, những bậc danh Nho, lương tướng, huân nghiệp
rực rỡ, biên chép rõ ràng...”
Ông
Trần Đình Túc thi đậu cử nhân, làm đến Tổng Đốc, Thượng Thư Bộ Lễ, Hiệp Biện Đại
Học Sĩ tước Lại An Tử, đã ghi lại:
*
Ngài thủy tổ đời thứ nhất là Trần Văn Đông, người làng Hà Mác, tổng Du Trường,
huyện Hậu Lộc, Phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, năm Canh Thìn (1470) theo vua Lê
Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, lập làng Hà Trung, được vua phong là Khai Canh.
*
Ông Trần Văn Đông sinh ra ông Trần Văn Lại, Trần Công Lệ và Trần Văn Nghinh (đời
thứ hai).
*
Ông Trần Văn Nghinh (đời thứ hai) sinh ra ông Trần Văn Khởi (đời thứ ba).
*
Ông Trần Văn Khởi (đời thứ ba) sinh ra Trần Hữu Ý tức Quang (đời thứ tư).
*
Ông Trần Hữu Ý (đời thứ tư) sinh ra: Trần Hữu Chí, Trần Hữu Võ, Trần Hữu Đệ (đời
thứ năm).
*
Kể từ ông Trần Hữu Chí (đời thứ năm) cháu nội ông Trần Văn Khởi (đời thứ ba)
thì dòng họ này bắt đầu phát quang. Trần Hữu Chí làm quan đến Quang Tiến Thận Lộc
Đại Phu, Đại Lý Tự Khanh, Cai Hạp Lệnh Sử, Văn Minh Hầu tên thụy là Thận Trực.
(Tước Hầu là một trong “ngũ tước” tức là bậc đại thần rồi). Từ đời thứ năm trở
về sau đều có người làm quan lớn (đúng như lời tiên đoán của thầy địa lý).
*
Trần Hữu Chí (đời thứ năm) sinh ra: Trần Hữu Phúc, Trần Hữu Lộc, Trần Đình Ân,
Trần Hữu Huệ, Trần Hữu Hiến (đời thứ sáu).
*
Trần Đình Ân (đời thứ sáu) là con trai thứ ba của ông Trần Hữu Chí (Văn Minh hầu)
làm quan đến chức “Tham Chính Chánh Đoán Sự, Tiết Chế Thủy Bộ Chư Dinh,” tước
“Đôn Hậu Công Thần” Đặc Tiến Trụ Quốc Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, Đại Lý Tự Khanh,
Đông Triều Hầu thụy Thuần Thiện.” Ông này làm đến nhất phẩm triều đình, là người
danh tiếng trong sử sách thời các chúa Nguyễn, đã được phong Thần “Cảnh Lượng
Chi Thần,” bài vị được thờ ở đình làng... (như đã trình bày ở trên).
*
Trần Đình Ân (đời thứ sáu) có 12 người con trai: Đình Lang, Đình Nhậm, Đình
Khánh, Đình Tiến, Đình Thuận, Đình Thoàn, Đình Mão, Đình Cường, Đình Quê, Đình
Vơi, Đình Xu, Đình Đệ (đời thứ bảy).
*
Trần Đình Khánh (đời thứ bảy) là con thứ ba của Trần Đình Ân, làm quan đến chức
“Quảng Nam Cai Bạ Danh Thế Hầu,” là người có tài ăn nói, lý luận, viết văn...
Trong 12 người con trai của Trần Đình Ân có đến 6 người làm quan lớn. Ông Trần
Đình Khánh mất khi mới 34 tuổi, được tặng Đặc Tiến Kim Tử, Vinh Lộc Đại Phu,
Thái Thường Tự Khanh, Thụy Thông Trí cũng còn gọi là “Danh Thế Hầu.” Năm 1825,
vua Minh Mạng tặng “Trung Hiếu chi thần.” Năm 1845, vua Thiệu Trị tặng “Trung
Hiếu Chi Thần” gia tăng “Liêm Minh Giản Trực Đoan Túc chi Thần,” giao cho làng
Hà Trung lập miếu thờ.
Sách
“Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên,” quyển thứ 5, từ trang 21b, bản Hán văn, phần
nói về Trần Đình Ân có phụ chép về các con của ông Trần Đình Ân là Trần Đình
Khánh, Trần Đình Thuận... (bản dịch của Trần Vinh Anh, Lê Ngọc Bích, Nguyễn Đức
Cung và Nguyễn Lý Tưởng, nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1974, tr. 246) và Đại Nam
Thực Lục Tiền Biên, phần nói về chúa Nguyễn Phúc Chu... (bản dịch của Viện Sử Học
Hà Nội, 1962, tr. 156 và 159...) đại ý như sau:
“Con
trưởng của Trần Đình Ân là Trần Đình Khánh có tài, được chúa tin dùng cho làm
quan văn tại chính dinh (kinh đô chúa Nguyễn ở Huế), chuyên soạn thảo các văn
thư cho chúa Nguyễn. Năm Canh Thìn (1700) Trần Đình Khánh cùng với Nội Hữu Cai
Cơ là Tống Phúc Tài đến Quảng Bình và Bố Chánh xem xét hình thế núi sông. Khi
trở về, ông xin chúa cho sửa sang thành lũy, cầu cống, đặt sở tuần các nơi, lo
giữ những chỗ xung yếu để bảo vệ biên cương. Chúa nghe theo. Năm Tân Tỵ (1701)
ông được thăng Cai Bạ tỉnh Quảng Nam. Tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1702) quân Nguyễn ở
Nam Bố Chính bắt được thám tử của họ Trịnh, đem về. Nhân việc đó, tướng Trịnh ở
Bắc Bố Chính là Trịnh Huyên (có bản phiên âm là Hoàn) gởi thư trách chúa Nguyễn
và có ý muốn gây hấn. Chúa Nguyễn Phúc Chu (tức Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng Đế)
sai Trần Đình Khánh viết thư trả lời về việc đó. Trịnh Huyên đọc thư xong bèn bỏ
qua không nhắc đến việc ấy nữa.”
Theo
Gia Phả họ Trần Đình thì Trần Đình Khánh là con thứ ba. Nhưng theo sử nhà Nguyễn
(Liệt Truyện Tiền Biên) thì Trần Đình Khánh là con trưởng. Có lẽ sử quan nhà
Nguyễn đã nhầm lẫn.
Ông
Trần Đình Khánh làm quan ở Quảng Nam có tiếng là thanh liêm, được chúa Nguyễn
Phúc Chu tặng cho câu đối như sau:
“Tài
phú xuất ư Quảng Nam ỷ khanh thiên lý thi cam vũ;
Mưu
do kiến ư Hoàn Nội vi ngô nhất quốc tác can thành.”
(Của
cải sinh nhiều ở Quảng Nam, nhờ khanh mà muôn dặm được mưa ngọt; Mưu cơ thấy ở
Hoàn Nội, vì một nước ta mà làm tướng giữ cõi bờ)
Chữ
“can thành chi tướng” dịch là “ông tướng giữ cõi bờ” (ông tướng gánh được việc
giữ nước nhà).
*
Trần Đình Thuận (con Trần Đình Ân) cũng được phong chức Cai Bạ Phó Đoán Sự
trông coi Tướng Thần Lại Ty (Bộ Lại)... Theo Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên quyển
thứ 5, trang 25a, bản Hán văn, phần nói về Trần Đình Ân có phụ chép về Trần
Đình Thuận... và theo Đại Nam Thực Lục Tiền Biên phần nói về chúa Nguyễn Phúc
Chu (Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng Đế), bản dịch của Viện Sử Học Hà Nội, 1962, tr.
159: “Tháng 3 năm Quý Mùi (1703) chúa (Nguyễn Phúc Chu) sai quan Ngoại Tả Chưởng
Dinh là Trần Đình Diệu và văn chức là Trần Đình Thuận (con Trần Đình Ân) đốc xuất
quân lính đắp kè ở kênh Hà Kỳ, từ xã Lai Cách đến xã Thủy Liên gồm 5 cái để tiện
việc liên lạc vận tải tàu bè. Một tháng thì xong việc, được thưởng vàng, bạc...”
(Xem thêm: Đại Nam Liệt Truyền Tiền Biên, bản Hán văn, quyển 5, tr. 25b. Bản dịch
của Trần Vinh Anh, Lê Ngọc Bích, Nguyễn Đức Cung và Nguyễn Lý-Tưởng, nxb Khai
Trí, Sài Gòn, 1974, tr. 249). Năm Giáp Thân (1704) được thăng Đô Tri. Tháng 11
năm Bính Tuất (1706), được thăng Cai Bạ Phó Đoán Sự trông coi Tướng Thần Lại Ty
(Bộ Lại). (Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, Viện Sử Học Hà Nội dịch, 1962, tr. 163)
*
Trần Đình Ninh tức Hy (đời thứ tám) là con trai ông Trần Đình Khánh. Theo “Đại
Nam Liệt Truyện Tiền Biên” quyển 5, tr. 25b bản Hán văn và Đại Nam Thực Lục Tiền
Biên quyển X về chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (Thế Tông Hiếu Võ Hoàng Đế) (bản
dịch của Viện Sử Học Hà Nội, tr. 201) cho biết: “Con Trần Đình Khánh là Trần
Đình Hy làm quan đến Cai Bạ tỉnh Bình Thuận. Năm đầu đời Hoàng Đế Thế Tông (Thế
Tông Hiếu Vũ Hoàng đế tức chúa Nguyễn Phúc Khoát) là năm Kỷ Mùi (1739) được
thăng Tri Bạ Chính Dinh. Cũng theo Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (bản dịch của Viện
Sử Học Hà Nội, 1962, tr. 214), “Năm Nhâm Thân (1752), Trần Đình Hy (bấy giờ gọi
là Thức Lượng Hầu) được cử làm Khâm Sai Thần Sát đi thanh tra các quan ở các
huyện, khi về được thăng Hộ Bộ kiêm Binh Bộ.” Ông được tặng tước Trụ Quốc Vinh
Lộc Kim Tử Đại Phu, Chính Trị Thượng Khanh, Tham Chính “Thức Lượng Hầu.”
Tờ
sắc nguyên văn như sau:
“Hiện
nay khí Xuân nhầm thấm, ta tha thiết nghĩ đến việc chăn dân, nhưng còn lo các
quan dinh trấn trái phép vỗ về, các quan phủ huyện ít người giỏi giang, dân
tình hoặc vì đó chưa thấm đến dưới. Tuyên bố được ý của ta là trông cậy ở bọn
trung thần các ngươi. Vậy đặc mệnh các ngươi đi tuần sát ba huyện trong kinh kỳ
và các châu huyện Vũ Xương, Hải Lăng, Minh Linh, Lệ Thủy, Khang Lộc, Bố Chính.
Phàm quan lại bị người thưa kiện, đều được xét hỏi; quan võ từ cai đội, quan
văn từ ký lục trở lên thì tâu lên để định đoạt; đội trưởng, cai án, phủ huyện
trở xuống thì chiếu phép xử tội, cốt làm sao cho quan lại trong sạch, xứng với
lòng ủy thác của ta.”
Khi
ông mất, được tặng “Đôn Hậu Công Thần, Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, Chánh
Trị Thượng Khanh, Tham Chánh Thức Lượng Hầu” tên thụy “Cung Thận.”
*
Trần Đình Ninh (Hy), đời thứ tám, sinh được 10 người con trai: Đình Thận, Đình
Bửu, Đình Hiến, Đình Úy tự Miên, Đình Lân, Đình Khâm, Đình Khôi, Đình Khoan,
Đình Niệm (đời thứ chín).
*
Trần Đình Thận (đời thứ chín) là con trai trưởng của ông Trần Đình Ninh (Hy)
làm Quảng Bình Dinh Ký Lục, được thăng “Triều Liệt Đại Phu, Chánh Dinh Tri Bạ,
Duệ Đức Hầu” là người học hành thông thái được chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát
(Thế Tông) rất tin cậy.
(Theo
Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, bản Hán văn, tr. 25b... có ghi “Con của Trần
Đình Hy là Hiến được hưởng chức Hàn lâm Viện, làm đến chức Ký lục dinh Quảng
Nam... Nhưng trong Gia Phả họ Trần Đình không có tên ông này”)
*
Trần Đình Thận (đời thứ chín) sinh được 9 người con trai: Đình Lộc, Đình Hậu,
Đình Anh, Đình Đệ, Đình Hoài, Đình Trí, Đình Ngọa, Đình Thiêm, Đình Trưng (đời
thứ mười).
*
Trần Đình Trưng tức Ngãi (đời thứ mười), là con trai thứ chín của ông Trần Đình
Thận, giữ chức Hiệp Trấn Thái Nguyên, Hiệp Trấn Phú Yên được tặng “Trưng Tường
Hầu,” sau thăng “Trung Phụng Đại Phu, Đô Sát Viện Tả Phó Đô Ngự Sử” khi mất, được
cho tên thụy là “Trang Khải.”
*
Trần Đình Trưng (đời thứ mười) sinh được 4 người con trai: Đình Khanh, Đình
Túc, Đình Hanh, Đình Đắc (đời thứ 11).
*
Trần Đình Túc (đời thứ 11) là con trai thứ hai của ông Trần Đình Trưng, làm
quan đến Tổng Đốc Hà-Ninh (Hà Nội, Ninh Bình), Thượng Thư Bộ Lễ, Khâm Sai Đại
Thần, Hiệp Biện Đại Học Sĩ (đã trình bày ở phần trên).
*
Trần Đình Hanh (con trai thứ ba của ông Trần Đình Trưng) làm quan Tri phủ Vĩnh
Tường.
*
Trần Đình Túc (đời thứ 11) sinh được 11 người con trai: Đình Thiện, Đình Thuật,
Đình Trần, Đình Triệt, Đình Phát, Đình Võ, Đình Vỹ, Đình Thản, Đình Dậu, Đình
Viên, Đình Thành (đời thứ 12).
*
Trần Đình Tân (đời thứ 12) con trưởng ông Trần Đình Khanh (anh của Trần Đình
Túc) làm đến Suất Đội Thủy Sứ (Hà Nội) là một chức quan võ ở địa phương.
*
Trần Đình Thiện (đời thứ 12) là con trưởng ông Trần Đình Túc làm đến Tri huyện
Trấn Ninh.
*
Trần Đình Phát (đời thứ 12) là con trai thứ 6 của ông Trần Đình Túc. Ông Trần
Đình Phát làm quan dưới thời vua Thánh Thái và Duy Tân, lên đến Thượng Thư Bộ Hộ,
sung Phụ Chính Đại Thần, Hiệp Biện Đại Học Sĩ, tước “Lễ Môn Tử.” Ông mất năm
1914 thời vua Duy Tân.
*
Trần Đình Thản (đời thứ 12) là con trai thứ 8 của ông Trần Đình Túc làm quan
Tri huyện Phú Vang (Thừa Thiên), Tri huyện Tuy Phong (Phan Thiết) tước Hồng Lô
Tự Khanh rồi về hưu trí.
*
Trần Đình Viên (đời thứ 12) là con trai thứ 10 của ông Trần Đình Túc, làm chức
quan nhỏ, Hàn Lâm Viện Điển Tịch tại Quảng Nam.
*
Đời thứ 13: Ông Trần Đình Đống (Thị Lang) và ông Trần Đình Kiểm (Tri Phủ) là
con của ông Trần Đình Phát (đời thứ 12).
Kể
từ ông Trần Đình Phát (con ông Trần Đình Túc) làm đến Thượng Thư, Phụ Chính Đại
Thần dưới triều vua Duy Tân (1906-1916) trở về sau, con cháu dòng họ Trần Đình
không có ai làm quan lớn nữa. Đa số làm ruộng tại quê nhà.
Ông
Trần Đình Phát và anh em của ông thuộc đời thứ 12. Như vậy dòng họ này chỉ phát
từ đời thứ năm (5) với ông Trần Hữu Chí (Văn Minh Hầu) đến đời thứ 12 với ông
Trần Đình Phát (Thượng Thư Bộ Hộ, Phụ Chính Đại Thần thời vua Duy Tân): Tất cả
có 8 đời.
Nếu
kể thêm đời con ông Trần Đình Phát là Trần Đình Đống và Trần Đình Kiểm (làm đến
Tri Phủ) thì được 9 đời.
Từ
1945 trở về sau, không có ai trong họ Trần Đình giữ chức vụ lớn trong chính quyền.
Hiện
nay, con cháu ở trong nước cũng như ở hải ngoại, nhiều người học hành đỗ đạt,
có người đỗ tiến sĩ. Nhưng họ chỉ là chuyên viên, không có chức vụ lãnh đạo
trong bộ máy nhà nước.
Kết
luận:
Trong
phạm vi một bài báo, chúng tôi không thể nói nhiều hơn được mặc dù tài liệu hiện
có rất dồi dào. Để kết luận, chúng tôi xin mượn lời của cụ Nguyễn Hữu Bài (Thượng
Thư Bộ Lại, Phụ Chính Đại Thần, Phước Môn Quận Công) là người đồng hương, khi đến
viếng mộ cụ Trần Đình Phát (Thượng Thư Bộ Hộ, Phụ Chính Đại Thần) tại làng Hà
Trung:
Thăm
thẳm trên mồ luống những trông,
Hỡi
ai dưới đất nhớ tôi không.
Rế
khóc thần sầu đầy ngọn cỏ,
Nhện
giăng tơ thảm khắp cành thông.
Âm
dương phân cách chia đôi ngã,
Nhật
nguyệt đôi vầng chẳng đứng chong.
Tri
âm, tri kỷ người đâu tá?
Nợ
nước hồn thiêng phải gánh chung.
(Nguyễn
Hữu Bài)
Câu
cuối cùng: “Nợ nước hồn thiêng phải gánh chung”: Các vị tổ tiên dòng họ Trần
Đình, khi còn sống đã chung lo việc nước, lãnh trách nhiệm trước quốc gia dân tộc;
nay đã khuất cũng xin phò hộ cho con cháu, cho giang sơn tổ quốc, cho quê hương
dân tộc, cùng gánh chung trách nhiệm khôi phục đất nước, xây dựng một tương lai
tốt đẹp cho giống nòi.
GS
Nguyễn Lý-Tưởng
(Riêng
tặng các bạn đồng hương, con cháu dòng họ Trần Đình làng Hà Trung, Quảng Trị)